Translate

Climate Change

Popular Posts

Climate Change

CLIMATE GIS NHẮN NHỦ CÁC BẠN YÊU GIS & YÊU MÔI TRƯỜNG DÀNH CHÚT THỜI GIAN XEM ĐOẠN VIDEO CLIP NÀY

Hướng dẫn download ảnh vệ tinh Landsat

Để đáp ứng nhu cầu sử dụng ảnh Landsat của độc giả, Climate GIS xin gửi tặng đến toàn thể độc giả bài viết hướng dẫn các bạn Download ảnh vệ tinh Landsat Free.

Độc giả chú ý và làm theo các bước như sau:

B1: Vào địa chỉ website: http://earthexplorer.usgs.gov/ (yêu cầu phải cài Java Script)

B2: Nhấn vào nút Register để tạo 1 tài khoản (cái này đơn giản nên mình không nói thêm)

B3: Sau khi đăng ký rồi, nhấn nút Login để đăng nhập vào tài khoản của mình

B4: Nhập vị trí ảnh cần download (dạng kinh độ, vỹ độ) tại nút lệnh Add Coordinate hoặc số hàng và cột theo thiết kế sẵn tại nút Path/Row. Ví dụ mình nhấn vào Path là 124; Row là 53 (KV Tp. HCM). Nhấn Show màn hình sẽ đến vị trí bạn nhập. Nếu vị trí chưa đúng thì bạn có thể nhấn chuột lên màn hình cũng được.


B5: Nhấn vào nút Date Selected để chọn thời gian cần lấy ảnh. Theo mình nên để nguyên để lấy được ảnh nhiều nhất

B6: Nhấn vào nút Data sets

B7: Để chọn ảnh Landsat thì các bạn nhấn vào Lansat Archive và chọn các kiểu sau:
- L7 EMT+ SLC-Off: Ảnh sau năm 2003
- L7 EMT+ SLC-On: Ảnh từ năm 1999-2003
- L4-5 TM: Ảnh Landsat 4 và 5 theo sensor TM
- L1-5 MSS: Ảnh Landsat 1 đến 5 theo sensor MSS


B8: Nhấn vào nút Results sẽ ra kết quả các ảnh tìm kiếm được tại vị trí chọn. Nhấn vào Data set để chọn loại ảnh. Ví dụ: Mình chọn L7 EMT+ SLC-On

B9: Nhấn vào biểu tượng giống biểu tượng USB để download ảnh vào thời điểm cần thiết. Chú ý: Ảnh chỉ download được nếu không có biểu tượng hình cái xe đẩy hàng màu đen (bên phải biểu tượng download). Cái ảnh đó cần phải mua.

Ví dụ: Mình chọn ảnh sau:
  • Entity ID: LE71240521999317SGS00
  • Acquisition Date: 13-NOV-99
  • Path: 124
  • Row: 52
  • Chọn ảnh Level 1 Product rồi nhấn nút select download options
Đợi ảnh download xong là ta có ảnh ngay.


Chú ý: Các ảnh sau năm 2003 đều bị sọc hết nha các bạn. Do lỗi Sensor.

Chúc độc Giả thành công!
Theo: http://gisvn.com.vn 
Read Post | nhận xét

Phát triển kinh tế như thế này, thế hệ mai sau sống ở đâu?

Ô nhiễm làng nghề ở Việt Nam có lẽ đã được cảnh báo từ lâu, nhưng những hình ảnh như dưới đây thì quả thực làm cho ai nhìn thấy cũng hãi hùng. Mặt trái của nền kinh tế phát triển tự phát, thiếu quy hoạch đồng bộ. Tài nguyên thiên nhiên, môi trường sẽ ngày càng bị thu hẹp, con người sẽ sống thế nào trong tương lai? Các bộ ngành ở đâu khi người dân có quyền xả rác thải ra môi trường mà không bị xử lý? Đã đến lúc chúng ta cần phải quyết liệt hơn với các làng nghề, đặc biệt là làng sản xuất giấy, thu gom và chế biến rác thải điện từ (E-Wastes). Hình ảnh chụp tại làng nghề giấy của Xã Phong Khê (TP Bắc Ninh):

Con đường liên thôn Hạ Giang và Đống Cao (xã Phong Khê, TP Bắc Ninh) đã 10 năm qua bị chia cắt bởi rác thải sinh hoạt và sản xuất của toàn bộ xã Phong Khê
Tuy nhiên, cái giá phải trả cho sự phát triển kinh tế của nơi này quá lớn, đó là sự ô nhiễm mà nhiều người đã gọi đây là nơi ô nhiễm bậc nhất VN.
Vẫn còn nhiều cơ sở sản xuất thủ công xen kẽ trong khu dân cư gây ô nhiễm nặng
Đầu làng cuối xóm ngổn ngang than, củi và giấy, khắp nơi là rác. Dọc tuyến đê con sông Ngũ Huyện Khê là nơi lý tưởng để các hộ sản xuất thải loại các phế liệu sản xuất. Sông Ngũ Huyện Khê, dài hơn 20km, chảy qua Phong Khê.
Nước thải từ nhà máy hằng ngày vẫn xả xuống sông
Trước đây sông này là nguồn cung cấp nước chính cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của người dân hai bên bờ, giờ đây dòng sông bị ô nhiễm quá nặng. Nước sông đen đặc và bốc mùi hôi thối nồng nặc.
Con sông Ngũ Huyện Khê trong mát ngày xưa bây giờ đã... chết
Nguồn nước ngầm cũng bị ô nhiễm nghiêm trọng - dòng sông “đã chết” thật sự. Những ống khói đen ngòm mọc lên xả thẳng vào bầu không khí chung giữa khu dân cư với hàng nghìn hộ dân. Cả làng giấy thường trực một mùi khói khét lẹt và mùi hóa chất nồng nồng từ các cống nước thải. Rác thì ngập ngụa khắp xã. Người dân bức xúc, chính quyền không giấu giếm việc ô nhiễm nặng ở làng nghề.
Bà Nguyễn Thị Thỏa, thôn Đào Xá, xã Phong Khê, lội trên thửa ruộng của gia đình đã 14 năm không thể trồng lúa vì đất bùn bị ô nhiễm quá nặng
Những đồng cỏ ở Phong Khê đã không còn nên đàn bò phải tìm thức ăn ở bãi rác
Làng giấy Phong Khê bây giờ đã giàu lên, bên những ngôi nhà to đẹp là ống khói ngày đêm nhả khói đen ngòm
 Những con đường rác lưu cữu từ lâu, tầng tầng lớp lớp ô nhiễm
Một hộ dân vô tư xả rác ngay bên đường làng
Theo: http://tuoitre.vn
Read Post | nhận xét

Xử lý ô nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật tồn lưu tại Núi Căng – Thái Nguyên


Theo thống kê sơ bộ, Việt Nam đã và đang sử dụng khoảng 300 loại thuốc trừ sâu, 200 loại thuốc trừ bệnh, gần 150 loại thuốc trừ cỏ, 6 loại thuốc diệt chuột và 23 loại thuốc kích thích sinh trưởng cây trồng khác nhau gọi chung là hóa chất bảo vệ thực vật (HC BVTV). Phần lớn, các HC BVTV nói trên có nguồn gốc hữu cơ (hợp chất cơ - clo), trong đó có một số loại thuộc nhóm có độc tính cao đối với môi trường và sức khỏe, khó phân hủy, nằm trong danh mục các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (POPs) trong Công ước Stốckhôm tháng 5/2001 như aldrin (C12H8C16), chlodance, DDT, dieldrin (C12H8Cl6O), endrin (C12H8Cl6O), heptachlor (C10H5Cl7), hexachlorobenzen, Mirex, toxaphene, đã bị cấm sử dụng.
​1. MỞ ĐẦU
Hiện nay, HC BVTV độc hại bị cấm sử dụng, quá hạn sử dụng, nhập lậu bị thu giữ... đang tồn lưu tại nhiều địa phương trong cả nước, gây ô nhiễm môi trường không khí, đất, nước. Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, hiện có trên 1.153 điểm tồn lưu HC BVTV, trong đó có 335 điểm gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng cần được xử lý đến năm 2020 [1].
Phương pháp truyền thống để loại bỏ HC BVTV tồn lưu trong đất ô nhiễm bằng công nghệ thiêu đốt ở nhiệt độ cao trong lò công nghiệp chuyên dụng hoặc trong lò nung xi măng (kèm hệ thống xử lý khí thải) được đánh giá có hiệu quả về xử lý song chỉ phù hợp với một số địa phương, không phù hợp với quy mô nhỏ, bởi chi phí vận chuyển, xử lý cao [2]. Để tăng cường hiệu quả xử lý và tính khả thi áp dụng trong các điều kiện khác nhau, một số công nghệ khác đang được nghiên cứu, áp dụng như phân hủy plasma (hiệu quả cho cả pha khí và lỏng, đầu tư thiết bị lớn), phân hủy sinh học (tại chỗ, rẻ, phù hợp với chất thải có hàm lượng ô nhiễm thấp, thời gian xử lý lâu, mặt bằng xử lý lớn...) [3]; thủy phân kiềm nóng (đơn giản, cơ động, song chi phí xử lý cao, nguy cơ cháy nổ, khó kiểm soát ô nhiễm thứ phát..); xúc tác oxy hóa (đốt có xúc tác đồng, hiệu quả cao, song thiết bị phức tạp...) [4], phương pháp khử nhiệt - bẫy dầu - hấp phụ kiềm phân tán [5]. Bài trình bày một số kết quả nghiên cứu xử lý đất ô nhiễm HC BVTV tồn lưu, áp dụng phương pháp nhiệt phân không toàn phần, loại bỏ chất POPs (HC BVTV) khỏi đất ô nhiễm ở nhiệt độ tách thấp, trong môi trường không ô xy, áp dụng cho xử lý đất ô nhiễm có hàm lượng HC BVTV cao.
2. THỰC NGHIỆM
2.1 Đối tượng thử nghiệm
Mẫu đất ô nhiễm (hỗn hợp rắn) được lấy từ bể lưu giữ bằng bê tông (được thu gom tại nền và xung quanh kho chứa HC BVTV) tại khu vực Núi Căng, Thái Nguyên. Các mẫu thử nghiệm được gia công sơ bộ trong phòng thí nghiệm qua các công đoạn: phơi khô ở nhiệt độ trong phòng, nghiền nhỏ và sàng mịn qua sàng 0,25 mm, trộn đều, đảm bảo mẫu có tính chất đồng nhất. Thành phần chất POPs (HC BVTV) trong đất có nhiễm trước và sau xử lý nhiệt được phân tích trên thiết bị sắc ký khí Gas Chromatograph Shimadzu 2010 với đầu dò ECD.
2.2 Cơ chế loại bỏ HC BVTV khỏi đất ô nhiễm bằng nhiệt phân ở nhiệt độ thấp
Phương pháp xử lý được lựa chọn nghiên cứu là phương pháp phân tách nhiệt (nhiệt phân) nhằm tách (khử) các thành phần ô nhiễm (HC BVTV) ra khỏi đất ô nhiễm ở nhiệt độ tương đối thấp (dưới điểm sôi của các chất thành phần); quá trình tách nhiệt xảy ra đồng thời với phản ứng nhiệt phân hủy một phần chất ô nhiễm (được tạm quy ước gọi là phương pháp nhiệt phân không toàn phần nhiệt độ thấp).
Với cơ chế này, hỗn hợp rắn cần xử lý (đất ô nhiễm) được gia nhiệt trong thiết bị nhiệt phân (có môi trường không ô xy) đến nhiệt độ nhiệt phân, dưới tác động nhiệt và trong môi trường không oxy, các HC BVTV cơ-clo [R-X] hóa lỏng và bay hơi, một phần bị phân hủy theo (1) [6-9]:
Hỗn họp khí tạo thành được dẫn sang thiết bị hấp thụ với môi trường kiềm Y(-), liên kết R-Y được hình thành [7]:

Trong trường hợp dùng dung dịch xút NaOH để hấp thụ hữu cơ clo dạng hơi, sẽ xảy ra phản ứng:
R-X + Na(+)+OH(-) -> R-OH + Na(+)X(-)
Trong môi trường thiết bị thử nghiệm nhiệt phân không toàn phần nhiệt độ thấp, sản phẩm thu được là hỗn hợp rắn (đất) đã được loại bỏ các HC BVTV. Hỗn họp HC BVTV ở trạng thái hơi, phân hủy một phần, được dẫn sang thiết bị hấp thụ kiềm tuân thủ phản ứng (2) mà kết quả nghiên cứu được báo cáo ở một công trình khác.
2.3 Phương pháp thử nghiêm
Sơ đồ thử nghiệm được mô tả tại hình 2. Thiết bị nhiệt phân không toàn phần nhiệt độ thấp (gọi tắt là Thiết bị R) được thiết kế, chế tạo đảm bảo tính kín không ôxy xâm nhập, được điều khiển thay đổi các giá trị nhiệt độ khác nhau trong dải từ 200 - 900°c, được kiểm soát sự duy trì nhiệt độ ở các giá trị thời gian khác nhau trong khoảng từ 5 - 60 phút.
Hỗn hợp rắn được định lượng thành các mẫu có trọng lượng 20g/mẫu. Mỗi thử nghiệm được tiến hành như sau: Đưa 1 mẫu trọng lượng 20g vào trong lòng thiết bị R, nâng dần nhiệt độ lên đến đạt giá trị t° C định trước, sau đó thực hiện việc duy trì nhiệt độ trong thiết bị với khoảng thời gian dự định. Trong suốt quá trình gia nhiệt, môi trường không ôxy được duy trì. Khí bốc thoát ra được dẫn sang thiết bị xử lý bằng hấp thụ kiềm.
2.4. Phương pháp phân tích
Bảng 1 trình bày 18 HC BVTV cơ clo thường gặp, các chất 4, 6, 10, 11, 14, 15, 18 (được tô sẫm màu) nằm trong nhóm bị cấm sử dụng theo Công ước Stốckhôm. Mầu hỗn hợp rắn (đất ô nhiễm) được chiết xuất bằng dung môi, cô đặc trên máy cô chân không, làm sạch bằng cột silica, sau đó được phân tích thành phần trên thiết bị sắc ký khí Gas Chromatograph Shimadzu 2010 với đầu dò ECD.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Thử nghiệm xử lý đất ô nhiễm HC BVTV trong thiết bị nhiệt phân ở các nhiệt độ khác nhau
Mỗi giá trị nhiệt độ trong dải từ 200 - 450°C áp dụng cho mỗi mẫu thử nghiệm được duy trì trong 25 phút trong thiết bị R. Bảng 2 và hình 3 thể hiện kết quả phân tích hàm lượng (ppb) các chất ô nhiễm (HC BVTV) còn lại trong các mẫu rắn sau quá trình nhiệt phân trên.
Kết quả thí nghiệm cho thấy, các chất thuộc nhóm "666" như anpha-gama-delta BHC (bảng 2) có hàm lượng cao ở mẫu gốc (từ hàng nghìn đến hàng chục nghìn ppb) đều giảm mạnh ngay từ ở nhiệt độ 200°c, đạt 94% sau 25 phút (riêng beta BHC đạt 45%), đạt mức 99,5% khi ở nhiệt độ 230°C (delta BHC) và mức 99,9% ở 250°c (gama BHC). Thành phần anpha và beta BHC trong mẫu giảm chậm theo chiều nâng nhiệt, đạt 97 - 99% ở nhiệt độ 400°c. Trong số các HC BVTV thuộc danh mục cấm theo công ước Stockholm, aldrin chỉ giảm được 83% ở nhiệt độ 230°C; các chất khác, trong đó có DDT, mặc dù hàm lượng cao hơn nhiều nhưng cũng bị tách gần như triệt để sau khi được nung ở 200°c trong 25 phút. Duy nhất có trường hợp DDE, chất trung gian tạo thành trong quá trình nhiệt phân của DDT, ở nhiệt độ 250°c, sau 25 phút phản ứng, vẫn còn lại song khá thấp (dưới ngưỡng cho phép áp dụng đối với DDT là 10 ppb) và bị tách hoàn toàn ở nhiệt độ 270°c khỏi hỗn hợp rắn.
Như vậy, HC BVTV, bao gồm các thành phần có trong danh mục cấm theo Công ước Stốckhôm được loại bỏ hầu như hoàn toàn khỏi mẫu rắn trong điều kiện nhiệt phân không hoàn toàn, không ôxy ở nhiệt độ 250°c, trong thời gian 25 phút. Và cũng ở điều kiện này, các chất có trong danh mục quy định ngưỡng xả thải QCVN 15:2008/ BTNMT đều đạt hàm lượng thải (bảng 2 cột cuối cùng).
3.2. Thử nghiệm xử lý đất ô nhiễm HC BVTV ở nhiệt độ 250°c trong các khoảng thời gian khác nhau
Mỗi giá trị thời gian trong dải từ 5 - 30 phút áp dụng cho mỗi mẫu thử nghiệm được duy trì trong điều kiện nhiệt độ không thay đổi 250°c trong thiết bị R. Bảng 3, hình 4 và 5 sau đây là kết quả đo hàm lượng các HC BVTV còn lại trong hỗn họp rắn sau quá trình phân tách nhiệt trên.
Bảng 3 cho thấy các chất thuộc nhóm "666" như anpha-gama-beta BHC vẫn là những HC BVTV "bền nhiệt" nhất ở điều kiện nhiệt độ 250°c, thời gian lưu 25 phút, chỉ đạt <0 10="" 250="" 25="" 30="" 4="" 5="" a="" aldrin="" b="" beta="" bhc="" c.="" c="" ch="" d="" ddd="" dde="" ddt="" dieldrin="" div="" endrin="" gi="" gian="" h="" heptachlor="" hi="" ho="" i="" k="" kh="" ki="" l0="" l="" m="" n.="" n="" ng="" nghi="" nh="" nhanh="" nhi="" o="" p="" ph="" ppb="" qu="" quy="" r="" sau="" t.="" t="" th="" thi="" ti="" to="" tr="" trong="" trung="" u="" v="" x="" xu="" xy.="" y="">
Như vậy, HC BVTV và dẫn xuất trung gian của nó trong quá trình nhiệt phân được loại bỏ hoàn toàn khỏi mẫu thử rắn trong điều kiện của thiết bị R không ôxy ở nhiệt độ 250oC, trong thời gian 25 phút. Cũng ở điều kiện này, tất cả các HC BVTV có trong danh mục cấm theo Công ước Stốckhôm, trong danh mục quy định ngưỡng xả thải QCVN 15:2008/ BTNMT, cũng đều bị loại bỏ.
4. KẾT LUẬN
- Phương pháp nhiệt phân không toàn phần nhiệt độ thấp trong điều kiện không ôxy là khả thi nhằm xử lý đất ô nhiễm HC BVTV dạng POPs hàm lượng cao tại khu vực khảo sát.
- Chế độ công nghệ thích hợp của phương pháp trên là: nhiệt độ 250oC và thời gian nhiệt phân 25 phút, môi trường không ôxy trong Thiết bị nhiệt phân. Với chế độ công nghệ này, có thể xử lý loại bỏ các HC BVTV dạng POPs bị cấm sử dụng theo Công ước Stốckhôm, và các HC BVTV được quy định ngưỡng xả thải tại QCVN 15:2008/ BTNMT, đến mức đạt yêu cầu.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Báo cáo tại Hội thảo Triển khai thực hiện Quyết định số 1946/QĐ-TTg về Kế hoạch xử lý, phòng ngừa ô nhiễm môi trưởờng do HC BVTV tồn lưu trên phạm vi cả nước, do Tổng cục Môi trường chủ trì kết hợp với một số tổ chức quốc tế. Thành phố Vinh - Nghệ An, 2010.
2. Nguyễn Thành Yên, Cục Quản lý chất thải và cải thiện môi trường, Tổng cục Môi trường. Đánh giá hiện trạng công nghệ xử lý chất thải nguy hại tại Việt Nam hiện nay. Hội nghị Môi trường toàn quốc lần thứ Ba, 2010.
3. Báo cáo tại Hội thảo Giới thiệu và tham vấn lựa chọn công nghệ xử lý hóa chất POPs tồn lưu tại Việt Nam. Cục Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Hà Nội ngày 09/08/2007.
4.Quyết định của Bộ trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường số 1972/1999/QĐ-BKHCNMT ngày 10/11/1999 về việc ban hành quy trình công nghệ tiêu hủy thuốc bảo vệ thực vật do hữu cơ tồn đọng cấm sử dụng.
5.Yutaka ISHH, et all. POPs contaminated soil treat-ment with "Reductive heating and sodium dispersion method" and its recycling for material of green planting. Journal of Envir. Science for Sustainable Society 1 (2007) 11-14
6.Pyrolysis. Wikipedia, the/ree ancyclopedia.
7.Trần Quốc Sơn, Đặng Văn Liêu. Cơ sở Hóa học hữu cơ Tập 2, NXB Giáo dục, 2001
8.DDT, wikipedia, the free encyclopedia
Tô Thị Hải Yến, Hoàng Thị Huyền Bích, Phạm Quang Huy - Viên Công nghệ môi trường
Nguồn: http://vea.gov.vn
Read Post | nhận xét

Vi khuẩn biến CO2 thành xăng

Phương pháp giải quyết khí nhà kính đặc biệt là CO2, không phải là chưa được biết đến. Tuy nhiên, có lẽ sẽ còn tốt hơn nếu chúng ta có thể biến lượng khí nhà kính khổng lồ đang hủy hoại Trái Đất thành những thứ có ích hơn cho con người.

1. Vi khuẩn biến CO2 thành Xăng

Những con vi khuẩn R-eutropha có thể chuyển hóa carbon thành xăng sinh học. Ảnh minh họa.
Mới đây, các nhà khoa học tại Học viện Công nghệ Massachussets (MIT) của Mỹ đã thành công trong việc biến đổi gene của loài vi khuẩn Ralstonia Eutropha để chúng có thể chuyển hóa carbon thành isobutanol.
Isobutanol là thứ chất dung môi có thể trộn lẫn để sử dụng cùng với xăng hay thậm chí là có thể dùng thứ chất này để thay thế cho xăng xe. Các nhà khoa học hi vọng khi đề án nghiên cứu của họ hoàn thành, những con vi khuẩn R-eutropha qua biến đổi gene có thể giúp giảm thiểu lượng khí nhà kính trong môi trường cũng như giảm bớt sự phụ thuộc của chúng ta vào nguồn nhiên liệu hóa thạch đang sắp bị cạn kiệt.
Ban đầu, trước khi bị thay đổi, nguồn thức ăn của R-eutropha là carbon. Khi nguồn thức ăn xung quanh môi trường sống của chúng trở nên khan hiếm, R-eutropha tổng hợp một loại chất polyme để lưu giữ và bòn rút nốt từng chút carbon đã từng đi qua bộ máy tiêu hóa của chúng.
Sau khi loại bỏ cũng như thêm vào một vài gen cho những con vi khuẩn này, cộng với việc phức hợp một số phản ứng tổng hợp trong R-eutropha, các nhà nghiên cứu tại MIT đã thay thế được loại polyme chúng sản sinh ra thành isobutanol.
Không giống như các sản phẩm cồn hay các chế phẩm xăng sinh học khác, isobutanol có thể được sử dụng trực tiếp trên động cơ mà không cần qua thanh lọc.
Thực chất, đây không phải lần đầu tiên khoa học sử dụng vi khuẩn để chế tạo các loại xăng sinh học thay thế cho xăng hóa thạch. Tuy nhiên, ở các loài vi khuẩn tạo xăng trước đây, số vi khuẩn sử dụng để chế tạo xăng phải chết đi thì con người mới thu được sản phẩm xăng sinh học cần có.
Tại khoa nghiên cứu của Học viện Công nghệ Massachussets, loài vi khuẩn R-eutropha sẽ thải isobutanol trực tiếp ra, tạo thành môi trường chất lỏng xung quanh chúng. Từ đây, chúng ta chỉ việc xây dựng một quy trình đơn giản để thu giữ số chế phẩm xăng sinh học này.
Tạm thời, thức ăn đang được các nhà nghiên cứu tại Học viện Công nghệ Massachussets cung cấp cho loài vi khuẩn biến đổi gene này là đường fructose. Các giai đoạn nghiên cứu và thử nghiệm tiếp theo để R-eutropha chuyển hóa CO2 thành xăng sinh học đang được gấp rút thực hiện.
Trong tương lai, các nhà khoa học hi vọng rằng có thể tạo ra những quy trình dẫn CO2 trực tiếp từ các nhà máy đến nơi nuôi nhốt R-eutropha để chúng có thể loại bỏ khí thải kỹ nghệ cũng như tạo ra nguồn nhiên liệu hoạt động cho nhà máy.
Không chỉ có vậy, các nhà nghiên cứu tin tưởng rằng loài vi khuẩn này sau khi được biến đổi gene có khả năng chuyển hóa bất cứ dạng carbon nào trở thành isobutanol. Đây có lẽ là chìa khóa cho việc giải quyết chất thải công nghiệp cũng như nông nghiệp đang làm chúng ta phải đau đầu.
Trước mắt, nhóm nghiên cứu một mặt đang cố gắng làm cho những con vi khuẩn R-eutropha sản sinh ra nhiều isobutanol hơn với cùng một lượng thức ăn cung cấp cho chúng. Mặt khác, nhóm nghiên cứu cũng phải thiết kế hoàn thành một hệ thống để sử dụng tại các nhà máy công nghiệp.
Như đã nói, MIT không phải nơi đầu tiên nghiên cứu để sử dụng vi khuẩn sản xuất xăng sinh học tuy nhiên chưa một nơi nào thật sự hoàn thiện công việc này.
Một ví dụ điển hình là vào năm 2006, các nhà khoa học tại UCLA tuyên bố rằng họ đã thành công trong việc thu isobutanol từ loài vi khuẩn Synechoccus Elongatus cũng bằng nguyên liệu là khí CO2. Tuy nhiên, cho đến ngày nay chúng ta vẫn chưa thấy một hệ thống hoàn hảo nào sử dụng vi khuẩn để chuyển hóa khí nhà kính thành xăng sinh học. Hi vọng rằng những nghiên cứu tại MIT không chìm xuồng như những tuyên bố trước đây từ giới khoa học.

Cơ chế hoạt động của loại vi khuẩn Ralstonia Eutropha.

2. Biến giấy báo thành xăng sinh học siêu rẻ

Các nhà khoa học Đại học Tulane ở Mỹ đã khám phá ra một chủng vi khuẩn mới được đặt tên là TU-103 có thể ‘lên men’ hàng tấn giấy báo thành nhiên liệu sinh học butanol thay thế cho xăng dầu.

Hiện nay họ đang thí nghiệm dùng TU-103 ‘ủ xăng’ từ những ấn bản cũ của các tờ báo như Times Picayune, Nhật báo New Orleans ở Mỹ rất thành công.
TU-103 là loại chủng vi khuẩn đầu tiên từ thiên nhiên có thể sản xuất nhiên liệu butanol trực tiếp từ hợp chất cao phân tử cellulose, thành phần chủ yếu cấu tạo nên vách tế bào thực vật.

Giờ đây hàng tấn giấy báo phế thải đã có thể được vi khuẩn TU-103 ‘ủ’ thành nhiên liệu sinh học butanol siêu rẻ. Ảnh: Paperonline.

“Cellulose được tìm thấy trong tất cả các loại gỗ thực vật và là nhiên liệu hữu cơ dồi dào bậc nhất trên Trái đất, và việc biến nó thành nhiên liệu butanol là giấc mơ của nhiều người”, trưởng nhóm nghiên cứu Harshad Velankar, sinh viên nghiên cứu hậu tiến sỹ tại phòng thí nghiệm David Mullin ở Khoa Sinh học phân tử và Tế bào Đại học Tulane cho biết. 

“Riêng ở Mỹ, hàng năm mọi người đem ném bỏ thành rác thải ít nhất 323 triệu tấn nguyên liệu chứa cellulose có thể được sử dụng để sản xuất thành butanol”, nhà khoa học dẫn giải thêm.

Nhóm nhà khoa học của Mullin ban đầu đã tìm ra vi khuẩn TU-103 trong phân động vật, sau đó họ tìm cách nuôi dưỡng nó và phát triển thành một kỹ nghệ sử dụng TU-103 để sản xuất butanol.

“Điểm quan trọng nhất của khám phá này là khả năng sản xuất butanol trực tiếp từ cellulose của vi khuẩn TU-103”, ông Mullin giải thích trên tờ Physorg. 

Ông này nhấn mạnh rằng TU-103 là loại chủng khuẩn nhóm clostridium có khả năng sản xuất butanol duy nhất từng được biết, có thể nuôi và sản xuất butanol trong điều kiện có mặt oxy, chất khí vốn giết chết tất cả các vi khuẩn làm xăng sinh học butanol khác. 
Trước nay, việc sản xuất nhiên liệu butanol trong điều kiện môi trường không có oxy luôn làm tăng giá cả sản xuất và thành phẩm.
Xăng sinh học butanol có nhiều ưu điểm hơn xăng sinh học ethanol được sản xuất phổ biến từ đường, vì butanol có thể tiếp nhiên liệu cho các phương tiện motor đang tồn tại hiện tại mà không cần phải thay đổi chỉnh sửa động cơ như ethanol, lại cũng có thể được truyền dẫn bằng các ống dẫn xăng hiện tại, ít ăn mòn hơn và chứa nhiều năng lượng hơn xăng ethanol.


“Khám phá này sẽ giúp làm giảm chi phí sản xuất xăng sinh học butanol. Ngoài ra, nhiên liệu sinh học butanol chế từ cellulose có thể giảm đáng kể khí CO2 và khói thải so với xăng dầu hiện tại, có hiệu quả tích cực đối với khí thải trên đất liền hiện nay,” tiến sỹ Mullin khẳng định.

Nguồn tin: lamtuong st
Read Post | nhận xét

Giải pháp cho sự biến đổi khí hậu

 Những biến đổi khí hậu trong 10 năm gần đây cho thấy diễn biến khí hậu thay đổi theo chiều hướng bất lợi cho con người, diễn biến khí hậu tự nhiên bất thường, như nhiệt độ ngày càng gia tăng và càng khắc nghiệt hơn , lượng mưa cũng thay đổi không bình thường, những biến đổi về thủy văn như mực nước dâng cao 2cm, diễn biến này cho thấy nguy cơ nước biển ngày càng dâng cao, lấn chiếm vào đất liền và ảnh hưởng nghiêm trọng đất canh tác lúa, vật nuôi cây trồng khác, thường sự biến đổi khí hậu tác động mạnh đến nhóm dể tổn thương thể hiện trầm trọng nhất là trẻ con và người già của nhóm nông dân sống vùng ven biển hay vùng sinh thái tại Đồng Bằng Sông Cữu Long

Giải pháp cho sự biến đổi khí hậu
Những biến đổi khí hậu trong 10 năm gần đây cho thấy diễn biến khí hậu thay đổi theo chiều hướng bất lợi cho con người, diễn biến khí hậu tự nhiên bất thường, như nhiệt độ ngày càng gia tăng và càng khắc nghiệt hơn , lượng mưa cũng thay đổi không bình thường, những biến đổi về thủy văn như mực nước dâng cao 2cm, diễn biến này cho thấy nguy cơ nước biển ngày càng dâng cao, lấn chiếm vào đất liền và ảnh hưởng nghiêm trọng đất canh tác lúa, vật nuôi cây trồng khác, thường sự biến đổi khí hậu tác động mạnh đến nhóm dể tổn thương thể hiện trầm trọng nhất là trẻ con và người già của nhóm nông dân sống vùng ven biển hay vùng sinh thái tại Đồng Bằng Sông Cữu Long

Về khí hậu hiện nay cho là xấu và bất thường hơn và đồng thời sẽ tệ hơn trong 10-20 năm sắp tới, đã có những lo ngại nhất định về các tác động của biến đổi khí hậu đối với ngành nông học, Chăn nuôi thú y, công nghệ thực phẩm, công nghệ sau thu hoạch, môi trường, tài nguyên đất đai và bảo vệ thực vật ..., do đó các nhà khoa học trường đại học cần thơ và các công sự đã đưa ra các giải pháp như sau:
•·         Nhóm Nông Học
 o    Nghiên cứu biện pháp cải thiện năng suất và chất lượng một số loại rau ăn lá và rau ăn trái quang trọng tại ĐBSCL

o    Đặc tính sinh học, sự ra hoa, rụng trái non và biện pháp canh tác tổng hợp nhằm nâng cao năng suất dừa ta xanh

o    Nghiên cứu khả năng chống chịu và biện pháp hạn chế đổ ngã trên lúa và một số cây trồng khác

o    Nghiên cứu chọn giống lúa chịu phèn ở Đồng Bằng Sông Cửu Long

•·         Chăn nuôi thú y
o    Nghiên cứu sử dụng các nguồn thức ăn địa phương trong chăn nuôi thỏ lai và gà ác ở ĐBSCL

o    Nghiên cứu phân lập và kiểm tra tính nhạy cảm đối với kháng sinh của vi khuẩn Escherichia coli, Staphylococus aureus trong sữa và môi trường vắt sữa ở một số hộ chăn nuôi bò sữa

•·         Công nghệ thực phẩm. công nghệ sau thu hoạch

o    Xây dựng mô hình tương quan giữa tính chất vật lý và thành phần hóa học của trái thanh long trong quá trình tăng trưởng và sau thu hoạch

o    Ảnh hưởng của xử lý trước thu hoạch kết hợp với bảo quản sau thu hoạch đế chất lượng và thời gian tồn trữ trái cam mật
•·         Khoa học đất, môi trường, tài nguyên đất đai và bảo vệ thực vật
 
o    Xây dựng hoàn chỉnh hệ thống quan trắc và cảnh báo sớm với biến đổi khí hậu , tập trung cũng cố hệ thống đê bao liên vùng vá các của song bằng cống hai chiều

o    Trồng và bảo vệ diện tích rừng ngập mặn, bảo vệ hệ thống chống xối lỡ bờ biển, xây dựng làng nhà sống chung với mực nước biển dâng cao

o    Xây dựng hệ thống canh tác nông lâm ngư thích nghi đê bao cục bộ ngăn ngừa nước biển dân cao

o    Các mô hình sinh thái và cung cấp nước sạch nhằm giúp công đồng thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm chi phí và nâng cao nhận thức về an toàn thực phẩm

o    Khảo sát hiệu lực một số loài nấm ký sinh côn trùng trên rầy đầu vàng Eoeurysa flavocapitata Muir hại mía

Trên đây là một số nghiên cứu của các nhà khoa học và công sự của trường Đại Học Cần Thơ nhằm khắc phục và hạn chế những tác hại của sự biến đổi khí hâu, nhằm thúc đẩy sự nhận thức của công đồng ven biển về tác động đến sinh kế và sự thích ứng, tăng cường giáo dục và tuyên truyền để nâng cao nhận thức của công đồng về biến đổi khí hậu, đồng thời lồng ghép các kiến thức trong quá trình xây dựng và thực hiện quy hoạch cũng như lập kế hoạch sản xuất, một số giải pháp mong muốn nhất được công đồng đề xuất là qui hoạch vùng sản xuất tập trung, được hổ trợ tốt hơn về vốn và kỹ thuật cũng như thông tin trong sản xuất để nâng cao hiệu quả sản xuất và phong ngừa rủi ro do tác động của biến đổi khí hậu.
Theo: http://www.vfc.com.vn
Read Post | nhận xét

ĐIỂM MỚI TRONG PHIÊN BẢN ARCGIS 10.1


Với phiên bản ArcGIS 10.1 đến nay qua một thởi gian sử dụng Climate GIS nhận thấy phiên bản này có điểm mạnh xin chia sẻ cùng độc giả. Phiên bản mới này  tập trung vào việc giúp người sử dụng chia sẻ bản đồ, phân tích và truyền tải thông tin địa lý với bất kỳ ai, thông qua trình duyệt web hoặc qua điện thoại.
Có thể nói rắng  mục tiêu của ArcGIS 10.1 là chia sẻ và cộng tác – làm cho việc đưa bản đồ và các phân tích địa không gian trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết mà không yêu cầu người sử dụng phải có hiểu biết nhiều về công nghệ IT và công nghệ GIS.
Việc phát hành ArcGIS 10.1 đánh dấu bước phát triển lớn trong ngành công nghệ GIS, ảnh hưởng mạnh đến cách mà người sử dụng truy cập và quản lý thông tin địa lý trong các năm tới. Theo truyền thống, việc tạo ra các bản đồ bằng công nghệ GIS yêu cầu phải có chuyên gia về công nghệ với nhiều kỹ năng và kinh nghiệm, nhưng tất cả sẽ thay đổi với phiên bản 10.1.
Với phiên bản này, bất kỳ ai cũng có thể sử dụng ArcGIS để: tìm kiếm, sử dụng, tạo, và chia sẻ bản đồ; cộng tác với người khác trong nhóm và cộng đồng bên ngoài tổ chức; triển khai các ứng dụng bản đồ với các template dễ dàng cấu hình; và tạo ra các ứng dụng sử dụng các hàm API.
Trong khi phiên bản 10.1 sẽ chứng kiến một làn sóng người dùng mới tận dụng sức mạnh của GIS, nó cũng sẽ đưa đến các lợi ích bền vững cho người dung GIS chuyên nghiệp truyền thống, bằng cách mở cho mọi người trong tổ chức thực hiện GIS với các tác vụ bản đồ đơn giản, ArcGIS 10.1 sẽ cải thiện đáng kể hiệu quả và khả năng bên trong các phòng ban GIS hiện tại.
Đến nay ngày càng nhiều người dùng bắt đầu nhận ra giá trị của GIS, nó cũng sẽ làm tăng vai trò của các chuyên gia GIS và các phòng ban trong tổ chức.
Một trong những thay đổi căn bản được giới thiệu trong ArcGIS 10.1 là việc nhấn mạnh vào điện toán đám mây. Với ArcGIS Online, các tổ chức có thể lưu trữ và quản lý bản đồ, dữ liệu, và các thông tin không gian khác của họ, cũng như truy cập hang ngàn bản đồ, dữ liệu, dịch vụ và công cụ miễn phí. Một điểm nhấn quan trọng khác của phiên bản này là tính khả dụng, với kiến trúc máy chủ 64-bit mới làm cải thiện hiệu suất và quy mô hệ thống.
ArcGIS 10.1 sẽ là phiên bản rất hữu hiệu trong công việc của các bạn. Rất hi vọng rằng trong tương lai gần ESRI sẽ ngày một cải thiện cá ứng dụng của bộ sản phẩm ArcGIS hỗ trợ chúng ta tốt nhất trong công việc.

Trân trọng - Climate GIS
Read Post | nhận xét

ỨNG DỤNG HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐỊA PHƯƠNG

Đặt vấn đề
Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý hành chánh, kinh tế xã hội, an ninh trật tự địa phương là hết sức cần thiết, điều này đã được nhấn mạnh trong chủ trương của Đảng và Chính phủ qua chỉ thị 58-CT/TW của bộ Chính Trị về “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa”. Trong công tác quản lý về kinh tế xã hội, an ninh trật tự của 1 phường/xã, các thông tin thường phải được cập nhật thường xuyên và với khối lượng lớn, hơn nữa việc tổng hợp số liệu để theo dõi, quản lý thường mất thời gian do phải tổng hợp từ nhiều nguồn, nhiều lãnh vực như tình hình sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, buôn bán, v.v...Đặc biệt, yếu tố không gian của số liệu rất quan trọng trong công tác quản lý của phường/xã như sự phân bố các thành phần kinh tế của từng khu vực/  ấp trong phường/xã, số đối tượng hình sự cần trong từng tổ dân phố, v.v... Hệ thống thông tin địa lý (GIS), với khả năng mạnh về phân tích, quản lý dữ liệu không gian, rất phù hợp trong công tác này.   
Công nghệ GIS được ra đời trong những năm 60 và bắt đầu được sử dụng ở Việt Nam khoảng 10 năm, tuy nhiên chỉ tập trung ở các trường đại học, viện nghiên cứu. Do đó, chưa tận dụng  được hết hiệu quả  của công nghệ  mạnh mẽ này trong công tác quản lý  địa phương. Việc  ứng dụng GIS trong công tác quản lý kinh tế xã hội, an ninh trật tự  của phường xã đã được thực hiện ở nhiều nơi trên thế giới. Ở Việt nam, một số nghiên cứu ứng dụng GIS trong công tác quản lý nhà nước đang được thực hiện như tỉnh Đồng Nai, TP Hồ
Chí Minh, v.v... 
  Mục tiêu của đề tài:
   Nghiên cứu khả năng ứng dụng GIS trong công tác quản lý phường xã, cụ thể là xây dựng một hệ thống thông tin địa lý phục vụ công tác quản lý địa phương cấp phường xã. Hệ thống có các chức năng sau:
•  Hiển thị bản đồ hành chánh của phường, xã tới cấp tổ dân phố. Trong đó có lưu trữ các dữ liệu về các chỉ tiêu KTXH của từng tổ dân phố, khu vực của phường 
•  Tạo các bản đồ chuyên đề và kết quả thống kê về KTXH, ANTT của các tổ dân phố trợ giúp cho việc theo dõi các chỉ tiêu này, vàkhi cần thiết có thể tổng hợp thông tin một cách nhanh chóng. 
•  Tổng hợp, thống kê các chỉ tiêu KTXH, ANTT của tổ dân phố, khu vực, phường/xã 1 cách nhanh chóng và chính xác.
•  Quản lý hồ sơ các đối tượng cần theo dõi, phần mềm cho phép lưu trữ, cập nhật và tìm nơi thường trú của 1 đối tượng, hay ngược lại tìm trong 1 khu vực có bao nhiêu đối tượng cần theo dõi, v.v...
 Do kinh phí (khỏang 6 triệu đồng) và thời gian có hạn, đề tài chỉ thực hiện thí điểm tại phường Tân An của TP Cần Thơ. Đây là phường trung tâm của thành phố.
II. Phương pháp thực hiện
Đề tài được thực hiện theo các bước sau:
-  Điều tra phỏng vấn các cán bộ quản lý của địa phương về công tác quản lý KTXH, ANTT của tổ, khu vực, phường, từ đó thiết kế các công cụ làm việc cần thiết cho phần mềm. Sử dụng phương pháp phân tích hệ thống nhằm lập sơ đồ hệ thống thể hiện các tiến trình (processes), dòng dữ liệu (data flows), cơ sở dữ liệu (database) cần thiết cho hệ thống 
- Thiết kế cơ sở dữ liệu cho hệ thống. Sử dụng phương pháp xây dựng HT CSDL liên kết nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu cho hệ thống. 
- Thu thập và số hoá bản đồ hành chánh của phường/xã có biên khu vực, tổ dân phố nhằm tạo bản đồ nền.
- Thu thập và nhập số liệu về KTXH, ANTT của từng tổ dân phố.
- Thiết kế và thiết lập các công cụ. Dùng ngôn ngữ Visual Basic và MapInfo
- Thiết kế và thiết lập giao diện cho người sử dụng (user interface). Dùng ngôn ngữ Visual Basic
- Viết tài liệu hướng dẫn sử dụng
III. Kết quả
1. Sơ đồ hệ thống
Sơ đồ hệ thống cho thấy thành phần của hệ thống như tiến trình, dòng dữ liệu và cơ sở dữ liệu nơi lưu trữ dữ liệu (hình 1). Hệ thống được thiết kế theo 3 bộ phận là:
- Bộ phận quản lý hộ tịch 
- Bộ phận quản lý nhà, đất 
- Bộ phận quản lý an ninh trật tự
Các bộ phận này thu nhận các dữ liệu cần thiết, xử lý và lưu trữ trong cơ sở dữ liệu  (CSDL). Khi có yêu cầu về phân tích thông tin, các bộ phận sẽ vào CSDL để lấy dữ liệu.  CSDL này bao gồm các bảng biểu và các bản đồ. 
2. Mô hình luận lý
 Qua phân tích nhu cầu quản lý thực tể ở địa phương, các thực thể được nhận diện và mối liên kết giữa chúng được phân tích, mô hình thực thể liên kết (ERD) đã được thiết lập như hình 2 dưới đây. Các thực thể trong CSDL bao gồm:
- Nhân khẩu: lưu trữ các dữ liệu về các cá nhân trong một hộ
- Nhà: lưu trữ các dữ liệu về hộ dân như chủ hộ, địa chỉ, lọai nhà, hình thức kinh doanh, v.v... 
- Lô thửa: lưu trữ các dữ liệu về lô đất như lọai sử dụng đất, diện tích, người sở hữu, v.v...
-  Đường: đây là dữ liệui nền phục vụ cho việc truy xuất thông tin theo tuyến đường
- Tổ dân phố: lưu trữ dữ liệu về tổ dân phố như dân số, diện tích, số hộ, số đối tượng ANTT cần quản lý, thu nhập bình quân, thành phần các họat động kinh tế, v.v...
- Khu vực: lưu trữ dữ liệu về khu vực dân cư như dân số, diện tích, số hộ, số đối tượng ANTT cần quản lý, thu nhập bình quân, thành phần các họat động kinh tế, v.v...
Hình 2. Mô hình ERD của CSDL quản lý phường xã
  Từ mô hình ERD đã được thiết kế, dựa trên nguyên tác lập bảng theo cấp bậc và tính bắt buộc của các thực thể, các bảng dữ liệu với các trường khóa và trường ngọai lai được thiết lập để tối ưu hóa việc lưu trữ dữ liệu trong hệ thống.
 Bên cạnh mô hình ERD cho dữ liệu thuộc tính, dữ liệu không gian của hệ thống được thiết kế gồm 5 lớp bản đồ chính là khu vực, lô thửa, tổ dân số, nhà và đường. Ngòai ra các lớp bản đồ nền khác cũng cần được thiết lập như sông ngòi, biên phường, v.v...
3. Các công cụ
Để dễ dàng cho việc nhập và truy xuất dữ liệu, các công cụ để thể hiện bản đồ chuyên đề, tìm kiếm theo các điều kiện khác nhau đã được thiết kế. Các công cụ này được sắp xếp trong một hệ thống giao diện đơn giản để người sử dụng dễ thao tác (hình 3).  Các công cụ được thiết kế bao gồm: 
- Công cụ vẽ bản đồ chuyên đề theo nhân khẩu: bản đồ này tô màu các căn nhà theo số nhân khẩu, dùng cho việc phân lọai hộ
- Công cụ vẽ bản đồ chuyên đề theo mật độ dân số của tổ dân phố: thể hiện các tổ dân phố theo cấp độ màu khác nhau tùy theo mật độ dân số của tổ
- Công cụ vẽ bản đồ chuyên đề theo an ninh trật tự, tô màu tổ dân số theo số đối tượng ANTT.
- Công cụ xem thông tin đối tượng cho phép người dùng xem thông tin của các đối tượng bản đồ (ví dụ: nhà)
- Công cụ tìm vị trí đối tượng cho phép tìm vị trí của đối tượng đã chọn 
- Các công cụ truy vấn thông tin theo tên chủ hộ, địa chỉ nhà, tên đối tượng ANTT
- Các công cụ thống kê nhanh nhân khẩu theo độ tuổi, năm sinh, giới tính, lọai đối tượng ANTT
- Công cụ truy vấn thông tin tổ dân phố theo tên tổ, theo khu vực.
- Công cụ nhập dữ liệu nhân khẩu, chủ hộ, tổ dân phố.
Hình 3. Giao diện hệ thống
 Chi tiết về cách sử dụng các công cụ này được nêu trong phần phụ lục
IV. Kết luận và kiến nghị
-  Đề tài đã thực hiện được mục tiêu đã đề ra, tuy nhiên do giới hạn về kinh phí và thời gian, đề tài chỉ tập trung giải quyết các vấn đề cơ bản và đơn giản trong công tác quản lý địa phương cấp phường xã. Tuy vậy, đề tài cho thấy tính hiệu quả của việc ứng dụng công nghệ thông tin, đặc biệt là GIS trong lãnh vực này. Đề tài đã tạo cơ sở tốt để phát triển các ứng dụng công nghệ GIS trong công tác quản lý địa phương sau này.
- Việc sử dụng kết quả vào thực tế rất khả thi và hiệu quả do tính đơn giản của hệ thống giao diện tiếng Việt. Các công cụ truy vấn, thống kê và thể hiện bản  đồ chuyên đề giúp cho cán bộ làm công tác quản lý địa phương làm việc được dễ dàng hơn, hiệu quả hơn. Đề tài nên được chuyển giao thực hiện thí điểm ở các phường xã để rút kinh nghiệm và hòan thiện hơn.
- Hệ thống GIS phục vụ công tác quản lý địa phương nên kết hợp với các hệ thống thông tin khác như  hệ thống thông tin quản lý hạ  tầng kỹ thuật  đô thị, hệ thống thông tin quản lý môi trường, v.v... để tăng thêm tính tổng hợp trong quản lý địa phương. 
Tài liệu tham khảo:
1.  Some selected Papers for GIS courses, 1996, ITC, the Netherlands
2. Mạnh P.T., Thành.P.V, 1999, Cơ Sở Hệ Thống Thông Tin Địa Lý (GIS) trong Quy Hoạch
và Quản Lý Đô Thị, NXBXD
3. Howe D.R. 1989, Data Analysis for Data Base Design, Edward Arnold
4. Hawryszkiewycz I.T. 1994,  System Analysis and Design, Prentice Hall
5. Burrough P.A. 1992, Principles of GIS for land resources assessment
6. Martien Molennar. 1997,  Lechture notes on Object Modelling Methodology,  ITC, the
Netherlands
7. Tuladhar A.M. 1996, Lechture note on Spatial Data Models and Structure in GIS,  ITC, the
Netherlands
8. Paresi, 1995,  Lechture note on Structure Information Systems Development
Methodologies, ITC, the Netherlands
9. Benwell G.L. 1994, A System Development Methodology for Geomatics as Derived form
Informatics, Newzealand
MSĐT: 3/CTQLKH2002 - Chủ nhiệm đề tài: NGUYỄN HIẾU TRUNG
Read Post | nhận xét